Thứ Ba, 6 tháng 3, 2012
Trị đái tháo đường bằng đậu bắp

Trị đái tháo đường bằng đậu bắp

Gần đây, trên các trang web có nhiều bài “ca tụng” đậu bắp như một “khắc tinh” của bệnh đái tháo đường. 

Có thật như vậy không?

Đậu bắp còn có tên là Mướp tây, bắp chà.

Tên khoa học là Hibiscus esculentus, họ Bông.



Quả đậu bắp có hình dạng tương tự như quả mướp nên gọi là mướp tây. Hạt trắng như hạt bắp (ngô) nên gọi là bắp chà. Cây giống đậu nhưng hạt giống bắp nên gọi là đậu bắp.

100g quả đậu bắp có 660 UI vitamin A (13% nhu cầu hàng ngày), 0,2mg vitamin B1 (10%), vitamin C 21mg (35%), canxi 81mg(l0%), folacin 88mcg (44%), magiê 57mg (16%), thiamin 0,2mg (13%), ngoài ra còn có kali và mangan.

Khi đun nóng lâu, chất nhầy làm cho nước canh đặc hơn. Nếu không thích nhầy thì chỉ đun nóng trong chốc lát.

Thanh nhiệt giải khát: lao động dưới trời nắng gắt, mồ hôi ra nhiều nên khát nước và dễ bị cảm nắng. Đậu bắp thanh nhiệt và sinh tân dịch, vì vậy, dùng đậu bắp nấu vừa ăn vừa uống nước nấu đó rất thích hợp.

Táo bón: đậu bắp rất dồi dào chất xơ, cả chất xơ hòa tan và chất xơ không hòa tan. 1/2 chén đậu bắp nấu chín có thể cung cấp khoảng 2g chất xơ, đậu bắp còn tươi nguyên cung cấp nhiều hơn, 1 chén khoảng 3,2g, và chất nhầy. Chất nhầy rất tốt đối với việc làm mềm phân, chất xơ kích thích nhu động ruột... cho nên nhuận tràng. Do chứa hàm lượng nước cao, đậu bắp còn giúp cơ thể tránh khỏi tình trạng táo bón, đầy hơi. Ngoài ra, đậu bắp giúp đi cầu tự nhiên, không gây đau bụng như các thuốc trị táo bón khác, vì vậy, những người thường bị táo bón, nên dùng đậu bắp nấu lấy nước uống và ăn cả quả đậu bắp luộc.

Hỗ trợ tiêu hóa: khi vào hệ tiêu hóa đậu bắp sẽ chất nhầy và chất xơ của đậu bắp trở thành môi trường tốt cho những vi khuẩn có lợi, có thể sánh với sữa chua (yaourt), giúp tổng hợp các vitamin nhóm B.

Đậu bắp có tính nhuận trường, dùng trị hội chứng kích ứng ruột, làm lành các vết loét trong đường tiêu hóa, đồng thời làm dịu những cơn đau thắt trong ruột.

Hỗ trợ giảm thân trọng: đậu bắp sinh ít nhiệt lượng - calori (khoảng 25 calo với 1/2 chén đậu bắp nấu chín), vì vậy đậu bắp là thức ăn lý tưởng cho những người đang muốn giảm cân. Chất béo phải nhờ cholesterol nhũ hóa mới vào máu, chất nhầy của đậu bắp khóa hoạt tính của cholesterol nên chất béo không vào máu; cơ thể không được tiếp tế nên sử dụng mỡ tồn đọng và tiêu mỡ khiến cho thân trọng giảm. Đa số người mập phì bị táo bón, vì vậy ăn đậu bắp vừa giảm cholesterol vừa chống táo bón, đúng là món ăn - vị thuốc.

Bệnh tim mạch: chất nhầy của đậu bắp ngoại hấp cholesterol của thực phẩm và của muối mật. Nó giữ cholesterol lại trong ruột, giúp cơ thể tái hấp thu nước, hấp thu những phân tử cholesterol vượt chỉ tiêu rồi bài thải theo phân ra ngoài, do đó giảm được cholesterol huyết. Những người cholesterol huyết cao, cao huyết áp, đau thắt ngực và các bệnh tim mạch khác nên ăn đậu bắp, vừa giảm cholesterol lại thông tiểu, rất thuận lợi cho bệnh cao huyết áp.

Tuy nhiên, nên lưu ý là không ăn đậu bắp cùng lúc với uống thuốc, hãy uống thuốc trước bữa ăn 1 giờ hoặc sau 2 giờ.

Hỗ trợ thai phụ: đậu bắp chứa nhiều acid folic. 1/2 chén đậu bắp nấu chín tương đương với 36,5mg acid folic. Một chén đậu bắp sống chứa đến 87,8mg acid folic. Đây là chất dinh dưỡng cần thiết cho nhiều chức năng của cơ thể, đặc biệt đối với những phụ nữ mang thai, acid folic rất quan trọng vì giúp phòng ngừa khuyết tật ống thần kinh và các dị tật bẩm sinh khác ở thai nhi.

Gần đây, những thí nghiệm tại khoa Y học cổ truyền, Đại học Y dược TP.HCM, cho thấy cao lỏng được chế từ thân và lá cây đậu bắp có tác dụng hạ đường huyết trên chuột thí nghiệm. Với liều 10g - 40g/kg thể trọng có tác dụng hạ đường huyết trên chuột thí nghiệm. Liều có tác dụng hạ đường huyết ổn định nhất là 30g/kg thể trọng. Ở liều này, cao lỏng đậu bắp hạ đường huyết có ý nghĩa thống kê từ thời điểm 40 phút và kéo dài đến 90 phút. Sau 90 phút, đậu bắp làm hạ 47,34% nồng độ đường huyết so với nhóm đối chứng không điều trị. Qua so sánh với insulin, tác dụng của đậu bắp không mạnh bằng insulin, không gây hạ đột ngột như insulin nhưng ổn định hơn và không có nguy cơ gây tụt huyết áp xuống dưới mức bình thường…
Một số nghiên cứu cũng cho thấy chất xơ hòa tan có tác dụng tốt trong ổn định đường huyết. Chất nhầy trong đậu bắp tiết ra thông qua những mặt cắt ngang, dọc thân trái và dễ hoà tan vào môi trường nước, kể cả nước ở nhiệt độ thường. Qua nhiều giờ ngâm, chất nhầy hòa tan vào nước biểu thị rõ bằng độ sánh trong nước tăng lên. Lượng chất nhầy trong trái non cao hơn nhiều so với thân hay lá.

Chúng tôi cũng nhận thấy có người ăn nhiều đậu bắp hàng ngày hoặc dùng thân, lá hoặc quả đậu bắp phơi khô rồi phối hợp với một số thảo dược như mướp đắng, lá ổi, lá sakê… sắc uống để trị đái tháo đường. Có khi thấy có kết quả nhưng không biết là do đậu bắp hay là do các vị thuốc dùng chung. Khi theo dõi thấy có người có tác dụng ổn định đường huyết rất tốt, số khác lại không; có lẽ do cơ địa không thích hợp chăng? Chưa có nghiên cứu khoa học nào kết luận hiệu quả điều trị của những trường hợp này, nhưng có điều cần lưu ý là cần theo dõi lượng đường huyết hàng ngày và cần có sự tư vấn của các thầy thuốc chuyên môn cho từng cơ địa mỗi người để có được hiệu quả thích hợp nhất.

Ngoài quả, cành non, thân, lá và rễ của đậu bắp cũng có thể dùng làm thuốc:

Giúp tiêu hóa tốt, chữa trị loét dạ dày, bảo vệ gan: dùng cành non của đậu bắp luộc ăn.

Chữa ho, viêm họng: rễ và lá thái mỏng phơi khô ngày uống 10 - 16g dưới dạng thuốc sắc hay thuốc pha.

Ngoài ra, còn dùng súc miệng.

Sốt cao, viêm đường tiểu, viêm họng: dùng lá, thân (hoặc thêm rễ) 40g, nấu lấy nước uống.

Để có được những lợi ích tốt từ đậu bắp, các nhà dinh dưỡng lưu ý:

Khi mua đậu bắp tươi, nên chọn quả không quá mềm, không có vết thâm bên ngoài vỏ, và không dài quá 8cm. Khi chế biến, nên nấu chín ở nhiệt độ thấp, vừa phải, không nấu, nướng đậu bắp ở nhiệt độ cao, tốt nhất là hấp chín.
Thứ Bảy, 3 tháng 3, 2012
Viêm khớp dạng thấp ở trẻ em

Viêm khớp dạng thấp ở trẻ em

Khi nói về bệnh thoái hóa khớp, viêm khớp dạng thấp, nhiều người thường nghĩ là bệnh chỉ gặp ở người cao tuổi và những người ít vận động, thừa cân béo phì. Tuy nhiên, hiện nay căn bệnh này không chỉ gặp nhiều ở người trung niên mà còn cả trẻ em.

>> ĐỊA CHỈ CHỮA BỆNH XƯƠNG KHỚP TỐT VÀ HIỆU QUẢ NHẤT
>> BỆNH ĐAU THẦN KINH TỌA ĐƯỢC GÂY RA BỞI THOÁI HÓA KHỚP
>> CÁCH CHỮA BỆNH THOÁI HÓA KHỚP HIỆU QUẢ

Những di chứng nặng nề cho trẻ bị bệnh thoái hóa khớp: 

Không ít người trong đó có cả những người trong ngành y tế cho rằng bệnh thoái hóa khớp, viêm khớp dạng thấp chỉ gặp ở người lớn tuổi. Nhưng thực tế, căn bệnh này còn gặp nhiều ở tuổi thiếu niên và có thể trong quá trình phát triển của trẻ sẽ để lại những di chứng nặng nề.



BS. Mai Trung Dũng – Khoa Phục hồi chức năng, Bệnh viện 354, cho biết: Hội nghị nhi khoa Quốc tế năm 1977 đã thống nhất tên gọi “Viêm khớp dạng thấp thiếu niên” để chỉ tất cả những bệnh viêm khớp mạn tính ở trẻ em dưới 16 tuổi. Đây là bệnh viêm bao hoạt dịch không sinh mủ mạn tính, kết hợp với một số biểu hiện ngoài khớp. Về bản chất, bệnh viêm khớp dạng thấp ở trẻ em giống với ở người lớn nhưng khác ở kiểu phản ứng lâm sàng. Viêm khớp dạng thấp thiếu niên thường để lại di chứng teo cơ cứng khớp, viêm mống mắt gây tàn tật suốt đời cho trẻ, là gánh nặng cho gia đình và xã hội.

Bệnh có 3 thể: Thể ít khớp, thể đa khớp và thể hệ thống. Viêm khớp dạng thấp thiếu niên thể ít khớp được xác định bởi tình trạng viêm khớp xảy ra ở dưới 4 khớp và diễn biến qua 6 tháng. Thường xuất hiện ở các bé gái với tổn thương ban đầu ở các khớp lớn như: Khớp gối, cổ chân, khuỷu, cổ tay. Rất ít khi tổn thương các khớp nhỏ, khớp háng và cột sống. Nếu chỉ viêm một khớp thì thường là khớp gối, khớp sưng đau nhưng vẫn đi lại vận động được. Thể viêm khớp này thường diễn biến nhẹ nhưng nó cũng có thể gây ra hai di chứng nghiêm trọng, đó là: Viêm mống mắt và tình trạng chân bên bệnh dài hơn chân bên lành làm trẻ đi khập khiễng.

Ở thể đa khớp, bệnh này ở trẻ em được xác định với bởi tình trạng viêm từ 4 khớp trở lên và kéo dài trên 6 tháng. Trẻ bị viêm đa khớp thường bắt đầu bởi tình trạng sốt nhẹ kéo dài, mệt mỏi, ăn kém. Triệu chứng đa số bắt đầu từ một khớp, sau đó phát triển sang khớp khác với tính chất đối xứng, sưng đau, phù nề, có thể có tràn dịch khớp gối, bệnh hay gặp ở khớp cổ tay, cổ chân, gối, khuỷu.

Còn viêm khớp dạng thấp thể hệ thống gặp ở trẻ từ 5-7 tuổi, khởi phát cấp tính với biểu hiện toàn thân là sốt cao kéo dài, viêm các khớp cổ tay, cổ chân, gối, khuỷu, khớp ngón. Các khớp viêm sưng, nóng, đau, ít đỏ, có thể có tràn dịch khớp. Kèm theo các biểu hiện ngoài khớp với các ban đỏ ở thân mình, tứ chi nhất là lòng bàn tay, bàn chân. Ngoài ra còn có thể có các tổn thương nội tạng như tại gan, lách, hạch, viêm màng ngoài tim, viêm màng bụng, màng phổi… Bệnh tiến triển từng đợt, mỗi đợt vài tuần đến vài tháng, vài năm, thưa dần rồi khỏi, có thể để lại di chứng ở khớp. Một số trường hợp nặng dần rồi tử vong vì các biến chứng suy tim, suy thận do nhiễm tinh bột.

Cần điều trị và động viên tích cực: 

Viêm khớp dạng thấp thiếu niên thể đa khớp là thể nặng nhất do cả số lượng khớp viêm nhiều lẫn tiến triển nặng nề. Bệnh thường tiến triển lâu dài, tăng dần đưa đến dính và biến dạng các khớp, teo cơ nhiều. Trẻ có thể gặp những khó khăn trong các hoạt động bình thường và cần được điều trị chăm sóc đặc biệt.

Điều quan trọng trong điều trị viêm khớp dạng thấp ở trẻ là phải kiểm soát được tình trạng viêm khớp càng nhanh càng tốt. Việc sử dụng các thuốc đặc trị để chống viêm là hết sức cần thiết để giảm các triệu chứng và ngăn ngừa các di chứng về sau, tuy nhiên cần thận trọng các tác dụng phụ của nhóm thuốc này, để an toàn tốt nhất cho trẻ điều trị theo đông y kết hợp với các phương pháp trị liệu kết hợp sẽ đem lại hiệu qua điều trị rất hả quan. BS. Mai Trung Dũng cho hay, vì bệnh kéo dài mạn tính nên cần nâng đỡ về mặt tinh thần đối với bệnh nhi. Cần quan tâm đến việc học hành, phục hồi chức năng, tái giáo dục và chỉnh hình cho các em.

Trong vấn đề chăm sóc và phục hồi chức năng đối với trẻ viêm khớp dạng thấp thiếu niên, thì việc giữ gìn tốt chức năng vận động của khớp, duy trì sức cơ bằng cách làm giảm viêm tại khớp. Ngoài ra cần chú ý đến các biện pháp ngăn ngừa và xử lý các biến chứng toàn thân, biến chứng do dùng thuốc. Các gia đình có trẻ bị mắc bệnh cần nâng đỡ tinh thần và biết cách chăm sóc. Có chế độ dinh dưỡng và luyện tập hợp lý để kích thích sự phát triển cho trẻ.

Theo BS. Dũng, cần có sự phối hợp chặt chẽ nhiều chuyên ngành trong điều trị, chăm sóc và phục hồi chức năng như: Bác sĩ chuyên về khớp, bác sĩ nhãn khoa, bác sĩ phẫu thuật chỉnh hình, bác sĩ dinh dưỡng, bác sĩ tâm lý, chuyên viên vật lý trị liệu, nhóm công tác xã hội và quan trọng nhất là bệnh nhi và gia đình trẻ. Quá trình điều trị, chăm sóc và phục hồi chức năng là một quá trình lâu dài, đòi hỏi sự hợp tác tích cực của bệnh nhi và gia đình mới có kết quả khả quan.

Giảm nguy cơ đái tháo đường khi ăn đậu

Giảm nguy cơ đái tháo đường khi ăn đậu

Ăn thường xuyên các loại đậu như đậu xanh, đậu lăng... có thể giúp cải thiện việc kiểm soát lượng đường trong máu và giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch vành (CHD) ở bệnh nhân đái tháo đường dạng 2.


Đó là kết luận của các nhà khoa học thuộc Đại học Toronto và Bệnh viện St.Michael ở Canada, sau khi khảo sát ở 121 bệnh nhân mắc đái tháo đường dạng 2. Các tình nguyện viên được chọn ngẫu nhiên có chế độ ăn uống chứa ít nhất một chén đậu (khoảng 190 gr) mỗi ngày hoặc ăn các chế phẩm từ lúa mì chứa chất xơ không hòa tan từ ngũ cốc trong 3 tháng. “Việc kiểm soát lượng đường trong máu diễn tiến tốt hơn ở những bệnh nhân đái tháo đường có chế độ ăn nhiều đậu so với chế độ ăn không có đậu”, nhà khoa học David J.A.Jenkins, Giáo sư y khoa và dinh dưỡng tại Đại học Toronto và Bệnh viện St.Michael nói. Chế độ ăn uống chứa nhiều đậu còn giúp giảm nguy cơ bị bệnh tim, Hãng tin ANI dẫn lời Giáo sư Jenkins cho biết thêm.
Thứ Năm, 1 tháng 3, 2012
no image

12 bí quyết để điều trị bệnh tiểu đường

Để điều trị bệnh tiểu đường một cách tự nhiên, bạn phải giảm sử dụng đường, fructozo , bánh mỳ trắng, và các loại đồ ngọt như bánh ngọt, nước ngọt, kẹo... Bệnh tiểu đường cũng có thể được chữa trị mà không cần sử dụng bất kỳ loại thuốc nào. Có rất nhiều phương pháp tự nhiên khác nhau để đề phòng bệnh tiểu đường mà không cần tới sự trợ giúp của bất kỳ dược phẩm nào, bao gồm:
Điều trị bệnh tiểu đường
1. Nước ép của các loại rau quả như chanh hoặc bầu, quả roi, cà chua, cà rốt, cải bắp, rau bi-na, dưa chuột và đậu tây, giúp giảm độ đường huyết rất tốt vì chúng có đặc tính chống tiểu đường.
2. Sử dụng quế ngâm giảm độ đường huyết và do đó sẽ phòng ngừa được tiểu đường.
3. Sử dụng tỏi sống hàng ngày cũng giúp kiểm soát độ đường huyết đến một mức độ nào đó.
4. Bạn cũng có thể ăn sô-cô-la đen có chứa hàn lượng ca cao lớn vì chúng có các chất chống oxi hóa. Cố gắng tránh sô-cô-la sữa.
5. Tập thể dục thường xuyên và tập Yoga, ngồi thiền cũng đã chứng minh có nhiều lợi ích cho bệnh nhân tiểu đường vì tập thể dục có thể tăng cường tuần hoàn máu và giảm độ đường huyết trong khi Yoga và ngồi thiền giúp chống lại stress. Yoga cũng là một trong những bài tập rất có tác dụng giúp các gia đình tránh xa bệnh hiếm muộn
6. Các thực phẩm đa dinh dưỡng như quả hạch nên được thêm vào trong chế độ ăn hàng ngày vì chúng có rất nhiều magiê. Tuy nhiên đừng nên ăn quá nhiều.
7. Bằng cách tạo lập thói quen ăn uống phù hợp cùng với tập thể dục thể thao đều đặn, bạn có thể đảo ngược được căn bệnh. Nhai thức ăn một cách thích hợp ít nhất 15 lần để kiểm soát căn bệnh. Bạn nên có một chế độ dinh dưỡng cân bằng phù hợp, không bỏ bữa. Ăn từ 5 – 6 bữa nhỏ mỗi ngày và bao gồm một số thành phần protein trong các bữa ăn để duy trì cơ bắp và năng lượng. Cũng nên sử dụng các viên vitamin chất lượng cao và viên bổ sung chất khoáng.
8. Thực hiện các bài tập rèn luyện sức mạnh cơ bắp. Các bài tập tăng sức khỏe cho tim như đi bộ, đạp xe, leo cầu thang... giúp bạn giảm cân và đốt mỡ.
9. Bơi lội là một môn thể thao rất tốt cho người bị tiểu đường.
10. Các loại thực phẩm xanh như lúa mạch, cỏ linh lăng... cũng giúp điều trị căn bệnh.
11. Tinh dầu chuối hoặc trà chuối giúp điều trị tiểu đường rất tốt.
12. Ngủ ít nhất 7-8 tiếng mỗi ngày giúp giảm stress và rất có lợi cho người bị tiểu đường.
Những lưu ý khi dùng thuốc viêm khớp dạng thấp

Những lưu ý khi dùng thuốc viêm khớp dạng thấp

Viêm khớp dạng thấp là một bệnh mạn tính, nó khá nguy hiểm vì khiến người bệnh đau đớn, giảm chất lượng cuộc sống và có thể dẫn đến tàn phế mặt khác bệnh này còn biến chứng vào vào tim mạch và nội tạng rất nguy hiểm. Quá trình điều trị phải kiên trì, liên tục, thông thường là suốt cả cuộc đời người bệnh. Phải sử dụng kết hợp nhiều biện pháp điều trị như nội khoa, ngoại khoa, vật lý, chỉnh hình, phục hồi chức năng và tái giáo dục lao động, nghề nghiệp.

Việc điều trị bệnh cụ thể phải tùy thuộc vào từng giai đoạn tiến triển khác nhau của bệnh. Mỗi giai đoạn khác nhau đòi hỏi các thuốc và biện pháp hỗ trợ khác nhau. Có thể phân chia như sau:

Với thể nhẹ, giai đoạn I có thể dùng aspirin đường uống, để tránh gây kích ứng niêm mạc dạ dày, thuốc phải được uống sau khi ăn no hoặc chloroquin (delagyl), dùng kéo dài vẫn có nguy cơ ảnh hưởng đến dạ dày và thận.

Với thể trung bình, giai đoạn II có thể dùng spirin đường uống, delagyl. Dùng một trong những thuốc chống viêm không có steroid sau: profenid, ibuprofen, diclofenac, piroxicam.


Có thể dùng thuốc nhóm steroid liều trung bình 40mg prednison mỗi ngày rồi giảm dần, không nên dùng thuốc kéo dài vì dễ gây nghiện và gây đau dạ dày tá tràng.

Thể nặng tiến triển nhiều: steroid liều cao; prednisolon liều cao hoặc sử dụng đường tiêm; hemisucinat hydrocortison tĩnh mạch liều cao, rồi giảm dần liều, duy trì bằng liều tối thiểu.

Điều trị bằng ngoại khoa và vật lý: Điều trị ngoại khoa được chỉ định trong hai trường hợp: cắt bỏ màng hoạt dịch khi bệnh chỉ còn khu trú ở một mình khớp gối và phẫu thuật chỉnh hình để phục hồi lại chức năng (thay thế bằng khớp nhân tạo bằng chất dẻo hay kim loại).

Điều trị vật lý đối với bệnh viêm khớp dạng thấp là một yêu cầu bắt buộc nhằm hạn chế đến mức thấp nhất các di chứng dính khớp và biến dạng khớp, nhằm tái giáo dục lại khả năng lao động nghề nghiệp cho bệnh nhân. Điều trị vật lý bao gồm điều trị bằng điện (điện xung, điện phân…); bằng tay (xoa bóp phục hồi chức năng, day bấm huyệt…), nước khoáng (tắm hoặc ngâm nước khoáng nóng; tắm bùn…) kết hợp với các biện pháp tập vận động thụ động và chủ động.

Tuy nhiên, việc dùng thuốc và lựa chọn phương pháp điều trị phụ thuộc vào giai đoạn bệnh của từng bệnh nhân, vì vậy, để điều trị bệnh hiệu quả và an toàn, bệnh nhân cần đi khám chuyên khoa và tuân thủ chặt chẽ chỉ định thuốc của bác sĩ. Ngày nay, các chuyên gia khuyến cáo, bệnh nhân viêm khớp dạng thấp tốt nhất nên điều trị theo Đông y vì cho hiệu quả lâu dài mà không gây tác dụng phụ đến dạ dày và thận.
Bệnh viêm đa khớp dạng thấp

Bệnh viêm đa khớp dạng thấp

Bệnh viêm đa khớp dạng thấp tiến triển như thế nào

Bệnh viêm đa khớp dạng thấp là một căn bệnh mà ít ai có thể ngờ. Nó luôn tiềm ẩn trong mỗi cơ thể. Có nhiều người bệnh mặc dù đã biết mình bị khớp nhưng lại không chú ý chăm sóc sức khỏe cho bản thân. Những loại bệnh viêm đa khớp như thế này rất dễ gây ra tàn phế chính vì thế mỗi cá nhân nên tự chăm sóc bản thân mình tốt hơn.


 Những biểu hiện dễ nhận thấy của bệnh là: cứng khớp buổi sáng, thức dậy không thể vận động được ngay mà phải xoay khớp, xoa bóp chừng 10-15 phút mới có thể xuống giường. Tiếp đến là đau khớp, nhất là các khớp nhỏ như: khớp bàn ngón tay, cổ tay, bàn ngón chân, cổ chân. Các khớp có đặc điểm là viêm đau, có thể sưng nhưng không đỏ lên. Bao giờ cũng có hiện tượng đau cân đối hai bên. Cuối cùng, nếu bàn tay, bàn chân bị biến dạng sau một thời gian đau khớp thì có nghĩa là bạn đã bị bệnh giai đoạn nặng. Khi có những biểu hiện đáng ngờ, xảy ra thường xuyên, cần đi kiểm tra.

Cách chữa bệnh viêm đa khớp dạng thấp


Bệnh viêm đa khớp dạng thấp là một căn bệnh không dễ chữa khỏi. Khi cơ thể sinh ra những chất chống lại chính những khớp của mình và gây đau. Khi xuất hiện những biểu hiện trên thì bệnh nhân cần được đưa tới bệnh viện hoặc những trung tâm y tế lớn để được điều trị kịp thời.

Đặc trưng của bệnh viêm đa khớp dạng thấp là tình trạng viêm màng bao khớp, do đó các khớp bị viêm phải sưng lên, có thể gặp ở bất kỳ khớp nào nhưng các khớp bàn ngón tay, cổ tay, gối hay bị tổn thương, thường là đối xứng hai bên. Tình trạng cứng khớp buổi sáng kéo dài hơn so với tình trạng thoái hóa khớp. Khi bị đau nhiều khớp không nhất thiết phải là viêm đa khớp dạng thấp mà có thể bị thoái hóa khớp. Tuy nhiên nếu chỉ bị viêm một khớp cũng không thể loại trừ viêm đa khớp dạng thấp.

Một khi khớp đã bị hư hại và biến dạng thì việc dùng thuốc không có tác dụng. Phẫu thuật tái tạo khớp giúp bệnh nhân có thể sử dụng khớp của mình không đau đớn. Đối với khớp gối và khớp háng, có thể dùng biện pháp thay khớp nhân tạo. Với các khớp khác như cổ tay, cổ chân, có thể hàn cứng khớp giúp bệnh nhân giảm đau đớn, đi lại hay làm nặng được.
Trị đái tháo đường bằng 10 món ăn bài thuốc

Trị đái tháo đường bằng 10 món ăn bài thuốc

Đái tháo đường, đông y gọi là chứng tiêu khát. Việc ăn uống đúng cách rất quan trọng để điều trị hiệu quả hơn.



Để giúp bạn có thể tham khảo và áp dụng được hiệu nghiệm, xin giới thiệu những món ăn bài thuốc có công hiệu phụ trợ chữa bệnh đái tháo đường, nếu thấy thích hợp bạn có thể chọn lựa sử dụng.

Canh khổ qua

Khổ qua 100 g. Rửa sạch khổ qua, xắt lát, cho vào nồi, đổ nước vừa phải nấu thành canh. Chia canh ra 2 lần ăn trong ngày. Công hiệu của món này làm giảm đường huyết, phù hợp trong chứng đái tháo đường bị nhẹ.

Cháo ý dĩ (bo bo), củ mài

Bột hoài sơn 50 g, ý dĩ 25 g. Cho 2 vị này vào nồi, đổ đủ nước hầm nhừ thành cháo loãng. Chia ra làm 2 buổi, ăn khi cháo đang còn nóng trong ngày. Công hiệu của món này là ích thận, kiện tì nên thích hợp với người bị bệnh đái tháo đường do bị thận hư.

Canh đậu đỏ, bí đao

Đậu đỏ và bí đao lượng đủ ăn trong một bữa. Cho đậu đỏ vào cùng nước nấu gần chín, sau mới cho bí đao vào nấu nhừ, uống nước và ăn hết cái, ngày ăn 2 lần, có thể dùng thường xuyên. Công hiệu của món này là lợi tiểu, giải độc nên thích hợp trong chứng đái tháo đường sinh sưng phù, da ghẻ lở, mụn nhọt khó lành.

Cháo cà rốt

Cà rốt tươi 100 g, gạo dẻo 150 g. Rửa sạch cà rốt, xắt miếng, nấu chung với gạo dẻo thành cháo nhừ. Ăn cháo vào buổi sáng và chiều. Cần ăn vài ngày liền. Công hiệu của món này là kiện tì, lý khí, giáng trọc, giảm mỡ. Thích hợp với bệnh đái tháo đường có kèm theo mỡ máu cao, tì vị không điều hòa, bụng trướng khó chịu.

Nấm xào thịt nạc

Nấm tươi 250 g, thịt lợn nạc 50 g, dầu mè 25 g, rượu gạo một chút, muối vừa đủ. Rửa sạch nấm, thịt lợn nạc xắt lát, cho vào xào chung với dầu mè, nêm gia vị vừa ăn. Dùng làm thức ăn trong bữa cơm. Công hiệu của món này là dưỡng khí, bổ huyết, tăng sức đề kháng cho cơ thể. Thích hợp với bệnh chứng đái tháo đường có gan nhiễm mỡ mãn tính, khí huyết hư nhược.

Cháo sâm, thiên môn đông

Nhân sâm 6 g, thiên môn đông 30 g, gạo lứt 100 g. Cho gạo lứt vào nồi đổ nước vừa nấu thành cháo. Khi cháo gần nhừ thì cho nhân sâm cùng thiên môn đông đã xắt lát mỏng vào và tiếp tục nấu nhừ thành cháo. Chia ra 2 lần, ăn vào buổi sáng và chiều. Cần phải ăn liền trong 7 - 10 ngày. Công hiệu của món này là ích khí, dưỡng tâm nên thích hợp với chứng đái tháo đường bị kèm theo bệnh mạch vành tim, tâm khí bất túc.

Cháo đào nhân

Đào nhân 10 đến 15 g, gạo dẻo 100 g. Giã nát đào nhân ép lấy nước, bỏ bã, cho vào nồi đổ cùng gạo, nước vừa đủ, nấu nhỏ lửa đến nhừ thành cháo là được. Chia ra ăn vào buổi sáng và chiều. Cần ăn vài ngày liền. Công hiệu của món ăn này là hoạt huyết hóa ứ, thích hợp với người mắc chứng đái tháo đường bị kèm thêm bệnh vành tim, khí trệ, huyết ứ.

Cháo hà thủ ô

Hà thủ ô 30 - 60 g, sơn dược (khoai mài) 40 g, táo đỏ 3 - 5 quả, gạo tẻ thơm 100 g. Nấu kỹ nhỏ lửa hà thủ ô và sơn dược, gạn lấy nước cho gạo và táo đỏ vào nấu nhừ thành cháo, chia ra ăn 2 lần vào buổi sáng và chiều. Công hiệu của món này là tư bổ can, thận, ích khí, dưỡng âm. Thích hợp cho người mắc chứng đái tháo đường kèm theo bệnh vành tim và can, thận đều hư.

Gà ác hoàng kỳ

Hoàng kỳ sống 30 - 50 g, gà ác 1 con. Gà thịt làm sạch lông, bỏ lòng, cho gà cùng hoàng kỳ nấu sôi nhỏ lửa, sau đó vớt bỏ hết váng, để thêm một lúc thì vớt nốt xác hoàng kỳ ra, cho mắm, muối vừa miệng. Dùng mỗi ngày 1 thang này, cần ăn từ 3 đến 10 ngày liền. Công hiệu của món này là ích khí dưỡng tâm, rất có công hiệu với người mắc chứng đái tháo đường mà tâm hư, thận hư, ra mồ hôi trộm.

Cháo hải sâm

Hải sâm 15 g, gạo trắng 30 g. Làm sạch hải sâm, xắt miếng nhỏ, sau cho vào cùng gạo đổ nước nấu nhừ thành cháo. Ăn vào buổi sáng, ngày 1 thang. Cần ăn 3 - 5 ngày liền. Công hiệu của món này là hoạt huyết, hóa ứ, lý khí, dứt đau. Thích hợp với chứng đái tháo đường kèm theo viêm tuyến tiền liệt, huyết ứ.

Đái tháo đường là bệnh có thể chữa trị được bằng tây y. Ngoài ra chế độ ăn uống cũng rất quan trọng đối với bệnh nhân đái tháo đường, giúp việc điều trị hiệu quả.